ĐĂNG NHẬP  
image banner
Lịch sử hình thành xã Nghĩa Hợp

 

Lịch sử hình thành xã Nghĩa Hợp(07/07/2021 08:28 AM)

Ngay sau cách mạng tháng 8/1945 trên vùng đất xã Nghĩa Hoàn, Nghĩa Đồng thuộc huyện Nghĩa Đàn đã đổi thành xã Liên Hoàn, xã Đại đồng. Cuối năm 1953 đầu năm 1954 xã Liên Hoàn tách ra thành 5 xã là: Nghĩa Dũng, Nghĩa Hoàn, Nghĩa Thái, Nghĩa Phúc, Nghĩa Hợp. Xã Nghĩa Hợp lúc bấy giờ nằm trên vùng đất của làng Vè ( Kỷ Vì thôn ) tức xóm Vực Lồ (xã Đại Đồng nay là xã Nghĩa Đồng) và xóm Khế (thuộc xã Liên Hoàn) cùng trại Nông Binh. Từ năm 1953 đến nay địa giới hành chính của Nghĩa Hợp có thay đổi ít nhiều nhưng về tên gọi của xã thì từ năm 1953 đến hiện nay vẫn không thay đổi. Đến tháng 4/1963 khi thành lập huyện Tân Kỳ, xã Nghĩa Hợp chính thức có tên trên bản đồ địa lý hành chính của huyện Tân Kỳ.

Vị trí - địa lý:

Xã Nghĩa Hợp là xã miền núi nằm cách trung tâm huyện 15 km về phía đông bắc, có có vị trí địa lý cụ thể như sau:

- Phía Bắc giáp xã Nghĩa đồng và xã Nghĩa Thái.

- Phía Nam giáp xã Nghĩa Dũng và huyện Yên Thành

- Phía Đông giáp xã Nghĩa Bình và xã Nghĩa Đồng

- Phía Tây giáp xã Nghĩa Dũng và xã Nghĩa Thái.

Tổng diện tích tự nhiên là 1.378,82 ha, có trục Quốc lộ HCM đi qua; dân số 716 hộ, 2893 khẩu. Xã thuộc diện Khu vực III, có 3 xóm, hệ thống giao thông nhiều.

Toàn cảnh xã Nghĩa Hợp nhìn từ trên cao

Địa hình:

Nghĩa Hợp có hai phần địa hình tương đối rõ rệt là đồi núi thấp cộng với những cánh đồng nhỏ hẹp ở thung lũng núi và một giải đồng bằng khá bằng phẳng chạy dọc theo sông Con.. địa hình bán sơn của Nghĩa Hợp điểm tô thêm bức tranh thiên nhiên đa dạng, độc đáo và không kém phần phức tạp của huyện Tân Kỳ

Thời tiết - khí hậu:

Xã Nghĩa Hợp nằm trong vùng khí hậu đầy biến động, phức tạp và khắc nghiệt nắng nóng, mưa nhiều, lũ lụt thường xuyên xẩy ra

Đất đai:

Nghĩa Hợp có diện tích đất tự nhiên 1392,34ha, thành phần đất gồm 4 loại: đất phù sa ven sông tập trung chủ yếu dọc sông Con, thuận tiện cho việc trồng các loại cây hoa màu như lạc, ngô, đậu, vừng... và có thể trồng lúa ở vùng thấp; đất thịt nặng chủ yếu ở các cánh đồng dọc thung lũng, đất feralit nâu, đỏ phân bố ở vùng núi thấp, đất bị đá ong hóa, cằn cỗi ở những sườn núi dốc.

Nhà văn hóa xóm Nghĩa Sơn xã Nghĩa Hợp

Nguồn nước:

Sông con lững lờ chảy, uốn khúc quanh co, mang đặc tính của sông tự nhiên đi qua địa bàn xã Nghĩa Hợp có chiều dài khoảng 7km, mực nước sông khi sâu nhất là 3,5m, thấp nhất là 1,5m cung cấp nguồn nước tưới cho kênh mương bản mồng.

Hệ thống đập nước, mương giẫn của xã Nghĩa Hợp hầu hết được nhân dân sửa chữa và làm mới. Trên địa bàn xã có 8 đập và 1 trạm bơm, gồm: đập Đồng Bắn, Khe Bò, Cửa Trúc, Đồng Thung, Đồng Truông, Đồng Mua, Hốc Sắn, Hóc Bà Nguyễn và trạm bơm Đồng Khế, đảm bảo phục vụ tưới tiêu cho phần lớn các diện tích canh tác trên địa bàn xã.

Hệ thống kênh, mương thủy lợi toàn xã có tổng chiều dài 13,2km trong đó: kênh chính có 8,2km, kênh nhánh có 5.0km. Đã kiên cố hóa bằng gạch và bê tông là: 11.2km chiếm 84.85%. Trong đó có 4.0km kênh chính thuộc công trình thủy lợi Bản Mồng do Xí Nghiệp Thủy ợi Tân Kỳ quản lý.

Dân cư

Theo số liệu thống kê của Phòng thống kê Huyện Tân Kỳ, tính đến trước năm 1975, dân số xã Nghĩa Hợp là 1.632 người. Đến năm 1989, dân số của xã tăng lên 2.309 người. Năm 1999 tăng lên 2.667 người, bình quân 2 người/ha đất tự nhiên. Hiện nay dân số xã Nghĩa Hợp là 2893 người. Khác với các xã trên địa bàn huyện Tân Kỳ, xã Nghĩa Hợp có thành phần dân cư không phức tạp. Trước đây vẫn có các dân tộc Thanh, Thổ , Thái sinh sống nhưng đến nay chủ yếu vẫn là dân tộc kinh.

Cơ sở vật chất kỹ thuật

So với các xã miền núi khác, xã Nghĩa Hợp nhìn chung có ưu thế tương đối về hệ thống đường giao thông. Chính phủ xây dựng đường Hồ Chí minh qua đia phận xã Nghĩa Hợp 4km, nằm trên tuyến đường 15A cũ, là một trong những điều kiện hết sức thuận lợi góp phần phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa giữa các xã. Cùng chạy song song với đường 15A( đường Hồ Chí Minh) là quốc lộ 15B ngoài việc phục vụ đi lại của dân sinh còn góp phần không nhỏ vào việc giao lưu kinh tế - xã hội với các xã lân cận.

Đoàn đường mon Hồ Chí Minh chay qua xã Nghĩa Hợp

Chạy thẳng con đường 15B về hướng Đông Bắc là bến đò sen nằm bên đồi Cây Thị. Bến đò sen là ranh giới nối liền giữa 2 xã Nghĩa Hợp và Nghĩa Đồng. Trước đây người dân phải dùng đò, thuyền để đi lại. Nhưng đến năm 2009 khi Cầu Sen được xây dựng mọi việc giao lưu đi lại giữa 2 xã trở nên thuận tiện hơn. Những năm gần đây khi nhà nước có chủ trương xây dựng Nông thôn mới. Với sự hỗ trợ đắc lực của Nhà nước, nhân dân đã bê tông hóa được hơn 7,65km đường liên xóm, liên xã và đặc biệt là tuyến đường 15B đã được khởi công và dự kiến hoàn thành vào năm 2022. Đó không chỉ là niềm tự hào mà còn là một thuận lợi hết sức đáng kể trong mọi hoạt động của người dân xã Nghĩa Hợp.

Cơ quan UBND xã, nhà bưu điện, trường học đều nằm sát đường 15B, đoạn đi qua xóm 2 và xóm 3 trước đây ( nay gọi là xóm Hồng Sơn) tạo thành hệ thống tổ chức cơ quan và là trung tâm điều khiển, sinh hoạt, tập hợp mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, thể dục thể thao của xã nhà. Xã có 1 cơ sở giáo dục mầm non và 1 phân hiệu trường cấp 1 với đội ngũ giáo viên nhiệt tình đủ đáp ứng yêu cầu dạy và học trên địa bàn.

Trạm Y tế xã hiện đã được sữa chữa và xây dựng mới năm 2004 với nhà cửa khang trang, có đội ngũ y, bác sĩ tận tâm phục vụ tận tình chu đáo nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.

Tuy không đáp ứng được toàn bộ diện tích canh tác của xã nhưng trạm bơm Đồng Khế xây dựng từ năm 1994 với công suất 270m3/giờ cũng phục vụ tưới cho 25 ha lúa của vùng Đồng Khế và các nơi lân cận.

Điều kiện tự nhiên – xã hội xã Nghĩa hợp có nhiều yếu tố thuận lợi song cũng không ít khó khăn nhưng với tinh thần đồng lòng, chịu khó của người dân đã vượt qua mọi khó khăn, chống chọi với thiên tai đưa đời sống của ngườ dân ngày càng đi lên.

Trụ sở UBND xã Nghĩa Hợp

Kinh tế - xã hội

Để đẩy mạnh phát triển kinh tế, giảm nghèo, nâng cao thu nhập, được Đảng bộ, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tập trung chỉ đạo; công tác quy hoạch, dồn điền đổi thửa được thực hiện đảm bảo, các mô hình sản xuất tập trung được hình thành. Ngoài ra chủ trương còn khuyến khích người dân tham gia các lớp đào tạo nghề để, chuyển đổi nghề, xuất khẩu lao động đi các nước nhằm nâng cao thu nhập cho người dân. Các tổ chức tín dụng, ngân hàng CSXH huyện giải ngân vay vốn 22.702 tỷ đồng, cùng với nguồn vốn nội lực của nhân dân để đầu tư mua sắm máy móc, vật tư phục vụ cho phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập. Thực hiện chính sách theo Quyết định số: 87/2014/QĐ-UBND ngày 17 tháng 11 năm 2014 của UBND tỉnh Nghệ An, về chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã đã có 25 máy cày lớn, nhỏ, 2 máy gặt đập liên hoàn được hỗ trợ lãi suất mua các loại máy móc thiết bị phục vụ sản xuất.

Tốc độ tăng trưởng năm 2019 đạt 13.7%/năm

Lãnh đạo Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Nghệ An trao bằng xếp hạng di tích lịch sử cho Đền Song đồng Ngọc nữ

Năm 2019: Tổng giá trị sản xuất ( giá 2010) đạt 74.686 triệu đồng. trong đó:

+ Nông - Lâm - Ngư nghiệp đạt:38.314 triệu đồng (chiếm 51.3%);

+ Công nghiệp, TTCN, XDCB đạt: 18.061triệu đồng (chiếm 24.18%);

+ Dịch vụ - TM, đạt: 18.309 triệu đồng (chiếm 24.52%).

+ Thu nhập từ tiền công, tiền lương, phụ cấp và nguồn tiền từ nơi khác gửi về: 35.614 triệu đồng.

Giá trị thu nhập bình quân đầu người năm 2019 đạt 33.1 triệu đồng;

Năm 2020: Tổng giá trị sản xuất ( giá 2010) ước đạt: 81.137 triệu đồng. trong đó:

+ Nông - Lâm - Ngư nghiệp ước đạt:41.832 triệu đồng (chiếm 51.5%);

+ Công nghiệp, TTCN, XDCB ước đạt: 18.949 triệu đồng (chiếm 23.3%);

+ Dịch vụ - TM, ước đạt: 20.356 triệu đồng (chiếm 25.09%).

+ Thu nhập từ tiền công, tiền lương, phụ cấp và nguồn tiền từ nơi khác gửi về: 40.534 triệu đồng.

Giá trị thu nhập bình quân đầu người năm 2020 ước đạt 36.01 triệu đồng;

Đền Song đồng Ngọc nữ được xếp hạng di tích cấp tỉnh

Di tích lịch sử:

Công tác bảo vệ giữ gìn di tích cũng được đặc biệt quan tâm. Trong thời gian qua, UBND xã đã chỉ đạo công chức chuyên môn phối hợp với phòng VH&TT và Ban Quản lý di tích Nghệ An, BQL các di tích thực hiện nâng cấp, tu bổ tôn tạo di tích đền Song Đồng Ngọc Nữ .

Đền Song Đồng Ngọc Nữ là một trong những ngôi đền thiêng của huyện Tân Kỳ, đền thờ con gái cụ Trần Đắc Tiến, hậu duệ đời thứ 5 dòng họ Trần thuộc làng Tri Lễ, xã Dương Hạp, tổng Cự Lâm, huyện Nghĩa Đường, phủ Quỳ Châu (nay là xã Nghĩa Hợp và Nghĩa Đồng, huyện Tân Kỳ).

Đến thời Hậu Lê, đền chính thức được xây dựng; thời Tự Đức được Lý trưởng lập bản khai đề nghị; đến năm 1851, Triều Nguyễn chính thức ban là đạo sắc “Nhị vị Thành hoàng Song Đồng Ngọc Nữ”.Trong chiến tranh, đền nằm ngay cạnh Phà Sen của tuyến giao thông huyết mạch phục vụ cho chiến trường miền Nam nên nhiều lần bị bom Mỹ đánh phá; sau đó được bà con xã Nghĩa Hợp và con cháu dòng họ Trần góp công góp sức tu bổ, tôn tạo như ngày hôm nay. Để góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa của di tích, con cháu dòng họ Trần, bà con xã Nghĩa Hợp và huyện Tân Kỳ đã quan tâm sưu tầm chứng tích và di vật để đề nghị UBND tỉnh công nhận. Trên cơ sở xem xét, năm 2017, UBND tỉnh đã có quyết định xếp hạng và công nhận đền Song Đồng Ngọc Nữ, xã Nghĩa Hợp là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

 


BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN TÂN KỲ
 
image

Tin tức
  • Quê Chung phần 1
1 
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement