GIỚI THIỆU CHUNG
Skip portletPortlet Menu
 
CƠ CẤU TỔ CHỨC
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
DOANH NGHIỆP
Skip portletPortlet Menu
 
VĂN HÓA HUYỆN TÂN KỲ
Skip portletPortlet Menu
 
THƯ VIỆN ẢNH
Skip portletPortlet Menu
 
ÂM NHẠC
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Tiềm năng phát triển huyện Tân Kỳ
 
Tiềm năng phát triển huyện Tân Kỳ (19/02/2019 01:42 PM)

1. Vị trí địa lý:

Tân Kỳ là một huyện miền núi thấp, nằm ở phía tây tỉnh Nghệ An, thuộc vùng Bắc Trung bộ. Có tổng diện tích đất tự nhiên là 72581,48 ha, đứng thứ 9 của tỉnh Nghệ An.

Tân Kỳ có tọa độ địa lý từ 18058 đến 19032 vĩ độ Bắc và từ 105002 đến 105014kinh độ Đông. Phía Bắc huyện Tân Kỳ giáp với huyện Nghĩa Đàn và huyện Quỳ Hợp, phía Nam và Đông Nam giáp với huyện Đô Lương và huyện Anh Sơn, phía Đông và Đông Bắc giáp huyện Yên Thành và một phần huyện Quỳnh Lưu; phía Tây và Tây Nam giáp với huyện Anh Sơn.

Trung tâm huyện Tân Kỳ (Thị trấn Tân Kỳ) cách tỉnh lỵ Nghệ An 80km về phía Tây; cách Thủ đô Hà Nội 259km về  phía Nam, cách quốc lộ 1A 60km về phía Tây; cách sân bay Vinh 90km và cách cảng Cửa Lò 100km về phía Tây; có đường Hồ Chí Minh đi qua từ đầu huyện đến cuối huyện theo chiều Bắc – Nam, có quốc lộ 48E đi qua theo chiều Đông – Tây, có tỉnh lộ 534B nối quốc lộ 48E đi ngã ba cây Chanh (huyện Con Cuông) cùng với mạng lưới giao thông đường bộ của Tân Kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lưu và hội nhập kinh tế, văn hóa, xã hội với các vùng trong, ngoài tỉnh và quốc tế.

2. Dân cư: Năm 2016, dân số Tân Kỳ có 135.878 người, chiếm 4,38% dân số toàn tỉnh, (trong đó nam: 67,818 người và nữ: 68,060 người).

Theo khảo sát điền dã của Viện Hàn lâm KHXH Viện Nam (năm 2017), tại Tân Kỳ đã xuất hiện các nhóm người tối cổ sinh sống vào thời kỳ Trung kỳ thời đại kim khí, cách đây 2500-2700 năm (phát hiện ở hang Hở Trung, xã Tiên Kỳ). Họ chính là chủ nhân tạo ra nền văn hóa bản địa từ thời kỳ đồ đá đến thời đại đồ đồng, đồ sắt trên vùng đất này.

Trải bao thăng trầm biến đổi của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, thành phần cư dân sinh sống lập nghiệp trên vùng đất Tân Kỳ ngày nay có nhiều thay đổi. Có rất nhiều người từ nhiều vùng miền khác đến định cư, lập nghiệp trên vùng đất Tân Kỳ, chính vì thế Tân Kỳ được gọi là Quê của muôn quê.

Thành phần dân cư ở Tân Kỳ chủ yếu tập trung vào 3 dân tộc là: Kinh, Thái, Thổ. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm tới 82% dân số toàn huyện, có mặt ở hầu hết các xã trên địa bàn huyện. Về nguồn gốc người Kinh sống ở Tân Kỳ, ngoài một số dòng họ như: Trần, Lê, Phạm, Phan, Nguyễn,v.v… định cư ở Tân Kỳ từ 12 - 15 đời hoặc ít hơn là 8 - 10 đời theo phả tộc, còn có khá đông người Kinh từ các huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên,… đến định cư ở đây mới khoảng vài chục năm. Một số ít người Kinh từ Thanh Hóa, Hà Tĩnh và một số tỉnh thành khác vì những lý do khác nhau cũng đến định cư ở Tân Kỳ trong khoảng nửa thế kỷ lại nay.

Ngày nay cùng với sự phát triển của đất nước, lực lượng lao động Tân Kỳ đủ khả năng đáp ứng những đòi hỏi yêu cầu đặt ra của thời đại.

3. Địa hình: Địa hình Tân Kỳ được xen kẽ bởi các dãy núi, khối núi và hệ thống sông suối lớn nhỏ đưa nước trên địa bàn các xã, thị của huyện, hợp lưu vào sông Lam. Tính chung toàn huyện, diện tích đồi núi chiếm tới 80% tổng diện tích tự nhiên của huyện. Quan sát trên bản đồ địa lý tự nhiên huyện Tân Kỳ và qua khảo sát thực địa ta thấy, núi đồi cao thấp lớn nhỏ bao quanh tất cả các xã, thị, trên địa bàn huyện, tạo thành những vòng cung lớn, vẽ nên một dạng địa hình lòng chảo, mang tính đặc thù của địa bàn miền núi mà ta thường gặp khi đi lên vùng phía tây Nghệ An.

 Các xã Tân Hợp, Tân Xuân, Giai Xuân được coi là vùng đỉnh của huyện, có cấu trúc địa hình nghiêng dần về phía sông Con (một trong những sông nhánh của sông Lam). Đỉnh núi cao nhất trên địa bàn huyện Tân Kỳ là đỉnh Pù Loi, có độ cao 1.100m; Tiếp đến là đỉnh Pù Á có độ cao 490m và đỉnh Bồ Bồ (472m); Ngoài ra có dãy núi đá vôi Lèn Rỏi và các khối núi đá vôi nằm rải rác ở nhiều vùng trên địa bàn huyện … đã tạo nên những hình thế đặc sắc cho địa bàn Tân Kỳ.

4. Khí hậu:

Là một trong những huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, Tân Kỳ có chế độ khí hậu chung là nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều theo mùa giống như nhiều huyện thành khác. Thông thường, từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết khô hanh; Từ tháng 4 đến tháng 8, do chịu ảnh hưởng của gió Phơn Tây Nam (còn gọi là gió Lào), nắng hạn tiếp tục diễn ra, nhiệt độ bình quân có thể lên tới 37,5 – 390c. Nhiệt độ bình quân ở Tân Kỳ hàng năm vào khoảng 230c, trong khi đó nhiệt độ cao nhất lên tới 400c, về mùa Đông nhiệt độ xuống thấp, có ngày xuống dưới 130c, thậm chí xuống đến 7-80. Lượng mưa bình quân hàng năm ở Tân Kỳ khoảng 2000 - 2200mm, chia thành 2 mùa rõ rệt.

 Độ ẩm không khí trung bình hàng năm duy trì ở mức độ cao, khoảng 80 -90%, tháng 9 là tháng có độ ẩm cao nhất trong năm, thông thường lên tới 90 - 93%. Riêng tháng 7 độ ẩm thấp nhất, chỉ đạt khoảng 74%. Lượng nước bốc hơi hàng năm ước đạt 780mm, chiếm hơn 1/3 tổng lượng mưa hàng năm.

5. Hành chính:

Theo địa giới hành chính hiện nay, Tân Kỳ có 22 đơn vị hành chính bao gồm 01 Thị trấn Tân Kỳ (còn gọi là thị trấn Lạt) và 21 xã là: Kỳ Sơn, Kỳ Tân, Nghĩa Dũng, Nghĩa Hợp, Nghĩa Bình, Nghĩa Đồng, Nghĩa Thái, Nghĩa Hoàn, Tân Phú, Tân Long, Tân Xuân, Giai Xuân, Tân Hợp, Tân Hương, Hương Sơn, Nghĩa Hành, Tân An, Nghĩa Phúc, Đồng Văn, Tiên Kỳ, Phú Sơn; Với 269 khối, xóm, bản.

6. Đất đai:

Tổng diện tích đất của đơn vị hành chính là 72581,48ha. Trong đó:

- Đất Nông nghiệp chiếm 63451,99ha, trong đó:

+ Đất sản xuất nông nghiệp: 27570,02 ha;

+ Đất lâm nghiệp: 34974,24 ha;

+ Đất nuôi trồng thủy sản (diện tích mặt nước sông, hồ, đập): 894,30 ha;

+ Đất nông nghiệp khác 13,43 ha.

- Đất phi nông nghiệp chiếm 7976,35 ha, trong đó:

+ Đất ở: 1036,39 ha;

+ Đất chuyên dùng: 4727,90 ha;

+ Đất chưa sử dụng: 1162,15 ha.

*Tài nguyên đất: Trên địa bàn huyện Tân Kỳ, có các nhóm đất chính sau đây:

- Nhóm đất phù sa: Đất phù sa được bồi đắp hàng năm có diện tích: 3.084ha, chỉ chiếm 4,23% diện tích đất tự nhiên của huyện. Toàn bộ diện đất đất phù sa phân bố dọc theo đôi bờ tả hữu sông Con, hay nói cách khác, những cánh đồng phù sa này là sản phẩm mà dòng sông Con đem ban tặng cho các thế hệ cư dân ở Tân Kỳ. Đất có độ phì nhiêu cao, được sử dụng từ lâu vào việc trồng mía, lạc, ngô, đậu, rau, bầu bí,v.v.. mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân.

- Đất phù sa không được bồi đắp thường xuyên, có độ Glây mạnh, phân bố ở các xã Đồng Văn, Tiên Kỳ, Nghĩa Phúc,v.v.. với tổng diện tích là 342ha. Loại đất này thích hợp cho việc trồng lúa và một số loại cây rau màu khác.

- Đất phù sa không được bồi chua, Glây yếu, có diện tích 3.640 ha, chiếm 4,99% diện tích tự nhiên của toàn huyện. Diện tích đất này phân bố chủ yếu ở các xã Nghĩa Đồng, Nghĩa Phúc, Tân Xuân, Giai Xuân.

- Đất phù sa có nhiều sản phẩm Feralít có diện tích 3,731 ha, chiếm 5,12% diện tích tự nhiên toàn huyện, được phân bố chủ yếu ở hầu hết các xã trên địa bàn huyện. Loại đất này chủ yếu để trồng lúa và nếu giải quyết tốt nguồn nước tưới có thể trồng từ 2 - 3 vụ trong năm.

- Nhóm đất vàng: Đất nâu vàng phát triển trên nền phù sa cổ, với 1.312 ha, chiếm 1,8% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện. Loại đất này phù hợp cho việc trồng cây ăn quả như: cam, dứa, cà phê,v.v…

- Nhóm đất lúa vàng vùng đồi núi:

+ Đất Feralít biến đổi do trồng lúa có diện tích 1.470ha, chiếm 2,02% diện tích tự nhiên, loại đất này chủ yếu là ruộng bậc thang, thường chỉ trồng lúa 1 vụ/năm, cho năng suất không cao.

 + Đất dốc tụ có 75 ha, chiếm 0,1% diện tích tự nhiên của huyện.

- Nhóm đất Feralít đỏ vàng miền núi bao gồm các loại: đất Feralít đỏ vàng trên đá kết, có diện tích 1.242 ha… Đất Feralít đỏ vàng trên phiến thạch có: 2.311 ha, chiếm 3,1% diện tích tự nhiên. Đất Feralít đỏ vàng trên đá Mác ma axít có: 6.196ha, chiếm 8,5% diện tích tự nhiên toàn huyện. Đất Feralít phát triển trên nền đá vôi có 8.332 ha, chiếm 11,43% diện tích đất tự nhiên. Nhóm Feralít xói mòn trơ sỏi đá có 1.150ha, chiếm 1,58% đất tự nhiên.

- Nhóm đất đen gồm có các loại: Đất đen trên Tuýp có 1.841 ha, chiếm 1,51% đất tự nhiên. Đất đen trên đá Các bon nát có 1.104 ha, chiếm 1,51% đất tự nhiên toàn huyện. Đất Feralít đỏ vàng ở vùng đồi núi thấp có các loại: đất Feralít đỏ vàng trên phiến sét có 563ha chiếm 0,77% đất toàn huyện, chủ yếu để phát triển nông nghiệp; đất Feralít đỏ vàng trên đá cát kết có 3.286 ha, chiếm 4,5% diện tích đất tự nhiên toàn huyện. Loại đất này độ mùn thấp, chủ yếu để trồng cây gây rừng.

* Tài nguyên nước

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lượng mưa hàng năm bình quân lên tới 2000 - 2200mm, nên lượng nước trên bề mặt ở Tân Kỳ khá dồi dào. Sông Con chảy qua địa bàn huyện có chiều dài 65km góp phần không nhỏ trong việc cung cấp điều hòa lượng nước. Đó là chưa kể tổng chiều dài các khe suối đổ nước về sông Con trên địa bàn huyện là khoảng 400km cũng góp một phần quan trọng trong việc duy trì nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất. Trong số hàng chục khe suối lớn nhỏ có 06 con suối nước chảy quanh năm là: khe Lòa, khe Lá, khe Sanh, khe Thiềm, khe Thần và khe Cừa. Hiện tại đã có 03 cầu bê tông vĩnh cửu và 03 cầu treo bắc qua dòng sông Con tạo điều kiện cho phát triển mạnh kinh tế, thương mại, dịch vụ.

     Để có thể phát triển sản xuất, ổn định đời sống bền vững, lâu dài cho nhân dân, trong suốt thời gian qua, các cấp chính quyền địa phương cùng nhân dân phát huy tính chủ động, khai thác nguồn nội lực, tranh thủ mọi sự đầu tư giúp đỡ của tỉnh và Trung ương, xây dựng cả một hệ thống hồ đập ở nhiều xã với tổng trữ lượng nước là 47,22 triệu m3. Nhờ hệ thống hồ đập nhân tạo này mà vấn đề nước tưới phục vụ phát triển nông nghiệp trên địa bàn các xã từng bước đi vào thế chủ động. Nguồn nước ngầm ở Tân Kỳ tương đối dồi dào, chỉ trừ hai xã là Tân Hợp và Giai Xuân, qua khảo sát thực tế, nguồn nước ngầm thấp, gây không ít khó khăn trong việc khai thác nguồn nước ngầm phục vụ đời sống dân sinh.

* Tài nguyên khoáng sản

Nguồn tài nguyên khoáng sản ở Tân Kỳ tập trung chủ yếu vào một số loại sau đây:

- Đá Vôi: phân bố chủ yếu ở khu vực Lèn Rỏi, có trữ lượng khoảng 2,8 tỷ tấn. Đá vôi ở Lèn Rỏi có chất lượng tốt để sản xuất xi măng. Trong thời gian qua một số mỏ đá vôi đã được cấp phép để khai thác nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng nhà cửa, cầu cống, đường giao thông,… trên địa bàn huyện. Quy mô của các mỏ đá tương đối nhỏ, sản lượng khai thác hàng năm đủ đáp ứng cho nhu cầu của nhân dân trên địa bàn huyện.

- Mỏ Sét ở Lèn Rỏi: có trữ lượng khoảng 760 triệu tấn. Loại đất sét này cung cấp cho các nhà máy xi măng để làm chất phụ gia.

- Ngoài ra còn có một số khoáng sản như cát, sỏi dọc sông Con, các khe suối, đá Granít, đá trắng,… ở Đồng Văn, Tiên Kỳ, Tân Hợp, Tân Phú và một số địa phương khác.

* Tài nguyên rừng:

Đến năm 2016, diện tích đất lâm nghiệp của huyện lên tới 34.974 ha, chiếm tới 48,2% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện. Trong đó, độ che phủ của rừng năm 2017 đã đạt đến 37,55%.

6. Kinh tế:

- Nông nghiệp: Trồng trọt: lúa, ngô (bắp), sắn; Cây ăn quả (cam, chanh, vải, mít, dưa hấu); Cây công nghiệp mía đường (cây chủ lực), tiêu, cao su, dâu tằm. Chăn nuôi: Dê, trâu, bò, lợn, gà, …

- Công nghiệp và thương mại, dịch vụ: SX vật liệu xây dựng: gạch, ngói; may mặc, phân vi sinh, chế biến mủ cao su; bắt đầu phát triển du lịch cộng đồng, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh … Tân Kỳ có 03 cụm công nghiệp nhỏ, gồm CCN Nghĩa Hoàn, CCN Nghĩa Dũng và CCN Đồng Văn; có 142 doanh nghiệp nhỏ và vừa với 2146 công nhân (trong đó nữ 544 người).

- Khai thác khoáng sản: Đá vôi, đá trắng, cát, sỏi…

- Tiềm năng phát triển du lịch huyện Tân Kỳ: Tân Kỳ là địa phương có cảnh quan thiên nhiên đẹp; là vùng đất có bề dày lịch sử; là quê hương của muôn quê nên vừa có sắc màu văn hóa bản địa, vừa có sự đa dạng văn hóa của nhiều vùng miền. Từ đó, tạo nên những ấn tượng cho bạn bè, du khách đến với Tân Kỳ. Với góc nhìn để phát triển du lịch, huyện Tân Kỳ hoàn toàn có thể đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, sản phẩm du lịch, gồm: Du lịch văn hóa, lịch sử gắn với tâm linh, tín ngưỡng; Du lịch sinh thái (danh lam-thắng cảnh), du lịch cộng đồng làng nghề kết hợp với các sản phẩm Nông nghiệp và công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.

Các địa chỉ tiêu biểu có thể đầu tư khai thác du lịch như: Cụm hang Mó và làng nghề dệt thổ cẩm Thái Minh, xã Tiên Kỳ; Cụm hang Thung Khiển, xóm Văn Sơn, xã Đồng Văn và thác Hồng Sơn, xã Tân Hợp; Cây Sanh ngàn tuổi và hang Mó Hóa ở xóm Kẻ Mui, xã Giai Xuân; Khe Sanh ở xã Nghĩa Phúc, Tân An; hệ thống di tích lịch sử và đình, đền, chùa trải dài từ đầu đến cuối huyện…

7. Truyền thống lịch sử văn hóa:

Tân Kỳ là huyện mới được tách ra từ hai huyện, là huyện Anh Sơn và huyện Nghĩa Đàn ngày 19/4/1963. Trên đất huyện Tân Kỳ (Nghệ An), dấu vết nền văn hoá Hoà Bình đã được tìm thấy trong nhiều hang đá thuộc dãy núi đá vôi Lèn Rỏi, nổi tiếng nhất là Hang Chùa. Dẫu đã thành phế tích nhưng Đền thờ Đức ông Lê Mạnh đại tướng quân, 1 trong 12 vị tướng giỏi của Vua Mai Hắc Đế trên địa bàn xã Tân An vẫn quanh năm hương khói.

Vào thời Lý, tri châu Lý Nhật Quang đã có công mở con đường thượng đạo đi qua đất Tân Kỳ nối liền với Thanh Hoá và ra tận Thăng Long làm đường tiến quân đánh thắng Chiêm thành vào năm 1044. Đặc biệt, trong khởi nghĩa Lam Sơn, khi chọn Nghệ An làm thế đứng chân để hạ Thành Trà Lân, Lê Lợi đã lập nhiều căn cứ trên đất Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp mà ngày nay vẫn còn lưu lại những tên gọi như bãi Loi Loi, bãi Tập Mã, bãi Voi, núi Đồn... Trong một vài hang đá thuộc Lèn Rỏi, người dân thỉnh thoảnh vẫn bắt gặp các loại dao kiếm, mã tấu bằng sắt, chứng tỏ nơi đây còn là nơi cất giấu vũ khí của nghĩa quân. Sử sách còn ghi cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật trên đất Tân Kỳ đầy bi hùng. Đến thời Cần Vương, mảnh đất Tân Kỳ lại là nơi các lãnh tụ và nghĩa binh Cần Vương ẩn náu, tránh sự truy lùng của giặc, nuôi dấu lực lượng lâu dài. Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vừa qua, mảnh đất Tân Kỳ lại một lần nữa viết lên trang sử mới bằng việc tiếp tục xẻ núi, băng ngàn mở ra con đường thượng đạo mới tiến về Nam, vào tận miền đông Nam Bộ - Lộc Ninh, con đường mang tên đường mòn Hồ Chí Minh mà điểm xuất phát là cột mốc số 0, ngay ngã tư thị trấn Lạt, điểm đầu của con đường anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ

     Hiện nay, Tân Kỳ đã có 05 di tích được cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 01 di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt (Km0-đường Hồ Chí Minh) và 04 di tích cấp tỉnh.

8. Một số nội dung khác:

- Về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn ổn định, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư.

- Các thủ tục hành chính: Với chủ trương đổi mới, thông thoáng, ưu đãi, khuyến khích đầu tư, huyện Tân Kỳ đã đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện cơ chế quản lý “một cửa”, “một cửa liên thông hiện đại”, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, đảm bảo môi trường đầu tư cởi mở, hiện đại.

- Cơ sở khám chữa bệnh: 25 cơ sở, trong đó có 01 Trung tâm Y tế huyện và 02 bệnh viện tư (chưa tính phòng khám tư).

Thay lời kết: Với vị trí địa lý khá thuận lợi, hệ thống giao thông dần được hoàn thiện, hệ thống dịch vụ ngày càng đầy đủ, đặc biệt có sự đoàn kết, đồng thuận của toàn Đảng bộ và nhân dân huyện Tân Kỳ đã và đang cùng nhau xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh. Trên cơ sở đó, với tiềm lực của mình, Tân Kỳ tin tưởng sẽ có ngày càng nhiều nhà đầu tư đến tổ chức sản xuất kinh doanh./.

Hoàng Hạnh


 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
 
 
 
THÔNG BÁO
Skip portletPortlet Menu
 
LỊCH LÀM VIỆC
Skip portletPortlet Menu
 
VĂN BẢN CHỈ ĐẠO
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
 
 
LIÊN KẾT WEBSITE
Skip portletPortlet Menu
 
THÔNG TIN CẦN BIẾT
Skip portletPortlet Menu
Nguồn: vnexpress.net